“Lục Đoàn trưởng, anh vốn đã quen với cái thói trên cao nhìn xuống, lúc nào cũng ảo tưởng rằng quyền thế và địa vị có thể đổi lấy tất cả mọi thứ trên đời này. Thế nhưng Giang Mộc Hoa tôi không phải loại người hám danh lợi, càng không phải hạng xu nịnh quyền lực. Những giá trị chân thành mà anh Xuân Lai mang đến cho tôi, một kẻ ích kỷ như anh có dùng cả đời cũng không bao giờ thấu hiểu được, và anh lại càng không có tư cách để đứng đây phán xét!”
Lục Cẩm Trình bị những lời đanh thép của tôi làm cho cứng họng, nghẹn lời không thốt ra được chữ nào. Sắc mặt anh ta trong nháy mắt tái mét như tàu lá chuối, giận đến mức hai hàm răng nghiến chặt vào nhau ken két.
“Hừ! Để rồi xem, sau này chịu khổ chịu cực, em có hối hận mà bò đến cầu xin tôi trong nước mắt hay không!”
Ném lại một câu rủa sả đầy tức tối, anh ta hùng hổ quay người bỏ đi thẳng.
Tôi quá thấu hiểu bản tính của Lục Cẩm Trình, bởi lẽ kiếp trước tôi đã phí hoài cả một đời để đi theo bóng lưng anh ta. Hôm nay anh ta hùng hổ dẫn theo cận vệ đến đây làm loạn, mục đích hoàn toàn không phải vì còn vương vấn chút tình cảm nào với tôi, mà chẳng qua là vì cái lòng tự tôn kiêu ngạo của một gã đàn ông bị tôi thẳng tay giẫm đạp trước mặt bàn dân thiên hạ mà thôi.
Sau khi Lục Cẩm Trình rời đi chưa được bao lâu thì Hà Xuân Lai cũng vừa vặn tìm đến cửa.
Hôm nay anh ăn vận vô cùng chỉnh tề, thay một bộ quân phục thẳng tắp, tác phong nghiêm túc. Trên tay anh khúm núm xách theo một hộp bánh ngọt được chọn lựa kỹ lưỡng từ chợ lớn cùng một tảng thịt heo tươi ngon gắn đầy mỡ màng. Đứng trước cánh cổng gỗ nhà tôi, dáng vẻ anh có chút bồn chồn, hít một hơi thật sâu rồi mới mạnh dạn giơ tay gõ cửa.
Khi đối mặt với vẻ mặt lạnh lùng, nghiêm nghị của cha mẹ tôi, cổ họng anh khẽ nuốt nước bọt vì căng thẳng, nhưng vẫn cố lấy hết dũng khí của một người lính để dõng dạc nói: “Thưa chú, thưa dì, cháu biết hai người hiện tại còn rất nhiều điều lo lắng, bất an về chuyện chung thân đại sự của cháu và Mộc Hoa. Trước đây cháu chưa từng đến làm lễ thăm hỏi đàng hoàng, tất cả đều là lỗi của cháu.”
“Nhưng cháu xin thề trước mặt hai người, cháu thật lòng muốn cưới Mộc Hoa về làm vợ. Dù hiện tại chức vị của cháu chưa cao, nhưng tiền lương và phụ cấp mỗi tháng của cháu hoàn toàn đủ sức để chăm lo cho cuộc sống của hai vợ chồng không phải thiếu thốn. Sau khi kết hôn, toàn bộ tiền lương thu nhập cháu cũng sẽ chủ động giao hết cho Mộc Hoa quản lý, giữ gìn.”
“Cháu tự biết bản thân không thể mang ra so bì với vị Trung đoàn trưởng kia về mặt địa vị, quyền thế. Thế nhưng cháu có một tấm lòng chân thành tuyệt đối, có thể bảo đảm mang lại cho Mộc Hoa một mái ấm ổn định, ấm áp và hạnh phúc nhất. Xin chú dì hãy tin tưởng cháu, cho cháu một cơ hội được thể hiện!”
Trong ánh mắt sáng ngời của Hà Xuân Lai tuyệt nhiên không có một chút kiêu ngạo, khoe khoang hay giả dối, mà chỉ có sự chân thành đến mộc mạc cùng một quyết tâm sắt đá.
Cha mẹ tôi tuy ngoài mặt không nói lời nào, nhưng tôi đứng bên cạnh có thể nhận ra tảng băng giá trong lòng ông bà đã bắt đầu tan chảy trước sự chân thành của anh. Họ vẫn cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị của bậc bề trên, nhưng ánh nhìn đã không còn vẻ bài xích, cứng rắn như lúc đầu nữa.
Mẹ tôi khẽ hừ nhẹ một tiếng lạnh lùng rồi quay mặt đi chỗ khác, nhưng tuyệt nhiên không mở miệng buông lời phản đối thêm câu nào. Cha tôi chậm rãi gõ gõ tẩu thuốc xuống chân bàn, trầm mặc suy nghĩ một hồi lâu, cuối cùng chỉ thở dài một hơi đầy bất lực. Tôi hiểu rõ cái thở dài ấy — nghĩa là họ đã ngầm đồng ý ban phát hôn sự này.
Rất nhanh chóng, thủ tục trong quân đội diễn ra vô cùng suôn sẻ, đơn xin kết hôn của chúng tôi sớm được cấp trên phê duyệt.
Đám cưới của hai đứa không có những bàn tiệc hoành tráng, linh đình, cũng chẳng có chiếc váy cưới xa hoa lộng lẫy. Chúng tôi chỉ tổ chức một buổi lễ tuyên bố đơn giản, ấm cúng ngay tại hội trường nhỏ của đơn vị hậu cần. Các chiến hữu thân thiết của anh đã tự tay dùng giấy đỏ cắt dán những chữ “Hỷ” vuông vắn treo lên bức tường gạch, tạo nên một bầu không khí vô cùng ấm áp, nghĩa tình.
Hà Xuân Lai khoác lên mình bộ quân phục chỉnh tề, tinh tươm, còn tôi thì diện một chiếc váy màu đỏ giản dị nhưng rạng rỡ. Chúng tôi đứng sóng vai bên nhau trước sự chứng kiến và chúc phúc của đông đảo đồng đội. Ánh mắt hai đứa giao nhau giữa bầu không khí náo nức, tràn ngập sự kỳ vọng và niềm tin kiên định vào tương lai phía trước. Cứ như thế, chúng tôi chính thức dắt tay nhau bước vào cuộc sống hôn nhân.
Giữa dòng chảy cuộn xiết của thời đại mới, hai con người nương tựa vào nhau, cùng nhau giữ vững ngọn lửa tình yêu và lý tưởng của riêng mình.
Không lâu sau ngày vui, đơn vị của Hà Xuân Lai nhận được lệnh điều động toàn quân di chuyển vào miền Nam. Tôi lập tức thu vén hành lý, theo chồng chuyển đến Thâm Thành.
Thế nhưng, tôi không lựa chọn cách sống an phận thủ thường giống như những người vợ quân nhân khác — suốt ngày chỉ biết quẩn quanh nơi góc bếp, chăm lo ba bữa cơm và giặt giũ tã lót cho con cái. Tôi có giấc mơ và tham vọng của riêng mình.
Kiếp trước, tôi đã từng có cơ hội đến Thâm Thành vài lần. Nhưng vào thời điểm đó, Thâm Thành đã lột xác thành một siêu đô thị hiện đại hàng đầu cả nước, thậm chí còn có danh tiếng lẫy lừng trên bản đồ thế giới. Còn bây giờ, ở mốc thời gian hơn đóng khung bốn mươi năm trước, nơi đây vẫn chỉ là một làng chài nhỏ bé, hoang sơ và nghèo nàn.
Hà Xuân Lai luôn lo lắng vợ mình sẽ phải chịu khổ, chịu thiệt thòi khi theo anh đến vùng đất mới này, nhưng tôi thì chẳng hề bận tâm. Bởi vì tôi biết rõ hơn ai hết, chỉ cần bước sang thập niên 80, mảnh đất làng chài này sẽ trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước, mở ra một kỷ nguyên phát triển thần tốc với những cơ hội vàng. Thâm Thành chính là tương lai.
Ngay khi vừa đặt chân đến đây, tôi đã vạch ra cho mình một kế hoạch sơ bộ cho chặng đường sắp tới — mục tiêu cốt lõi vẫn là dấn thân vào ngành dệt may, lĩnh vực mà tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và am hiểu sâu sắc nhất.
Trong khu tập thể dành cho gia đình quân nhân, cái tên Giang Mộc Hoa cũng dần trở nên “có tiếng” khắp vùng. Người ta biết đến tôi không phải vì sự hiền thục, giỏi giang bếp núc, mà là vì tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và tư duy kinh doanh nhạy bén độc lập.
Về tương lai của hai vợ chồng, tôi đã nhiều lần chủ động ngồi lại trò chuyện thẳng thắn với Hà Xuân Lai. Đúng như những gì tôi dự đoán, sâu trong thâm tâm, anh là một người có chí tiến thủ, không cam lòng cả một đời chỉ quanh quẩn trong khu nhà bếp đơn vị, suốt ngày đối mặt với khói bếp và nồi niêu xoong chảo.
Một buổi tối nọ, tôi nhìn thẳng vào mắt anh, nghiêm túc lên tiếng: “Anh Xuân Lai, anh định cả đời này bó buộc bản thân ở nhà bếp quân đội sao? Anh là người có năng lực, có trí tuệ, anh phải thi vào học viện quân sự để bước ra một bầu trời rộng lớn và huy hoàng hơn.”
Hà Xuân Lai nghe vậy thì lộ rõ vẻ ngại ngùng, gãi đầu phân trần: “Mộc Hoa à, anh thấy làm việc ở bếp ăn cũng tốt mà, đóng góp cho đơn vị cả thôi. Với lại, chuyện thi vào quân trường sĩ quan đâu phải là chuyện dễ dàng gì.”
Tôi kiên định nắm lấy tay anh, thúc ép: “Đương nhiên là không dễ dàng rồi. Nhưng nếu anh không dám dũng cảm thử sức một lần, làm sao anh biết năng lực của mình không làm được chứ? Thời đại mới rồi, những người có chí hướng ngoài kia ai nấy đều đang dốc sức nỗ lực để vươn lên vị trí cao hơn. Chẳng lẽ anh cam tâm tình nguyện cả đời phải hít khói bếp, để cái mùi dầu mỡ bết dính bám lấy người mãi sao?”
Dưới sự thúc đẩy, định hướng và động viên không ngừng nghỉ của tôi ngày này qua ngày khác, cuối cùng Hà Xuân Lai đã gạt bỏ sự tự ti, quyết tâm cầm lại sách vở để lao vào ôn tập chăm chỉ.
Sau bao nhiêu tháng ngày thức khuya dậy sớm, vất vả đèn sách, anh đã tạo nên một kỳ tích khi thành công thi đỗ vào học viện quân sự danh giá với số điểm xuất sắc.
Vào những năm tháng Hà Xuân Lai phải đèn sách xa nhà để theo học tại quân trường, tôi ở hậu phương đã hạ sinh đứa con gái đầu lòng của chúng tôi. Từ giây phút đó, toàn bộ gánh nặng vừa phải chăm lo vun vén cho gia đình nhỏ, vừa nuôi dạy con thơ, lại vừa bươn chải kinh doanh đều đổ dồn hết lên đôi vai gầy của một mình tôi.